Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân tích bài thơ Thương vợ | Làm văn mẫu

Phân tích bài thơ Thương vợ | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) : – Em hãy phân tích bài thơ Thương vợ của nhà thơ Trần Tế Xương trong sách văn học lớp 11.

(Bài phân tích thơ được 9 điểm của bạn Nguyễn Thúy Hồng).

Đề bài : Phân tích bài thơ Thương vợ 

BÀI LÀM

Nhà thơ Trần Tế Xương-hay còn gọi là Tú Xương-là một trong những nhà thơ đặc biệt của thơ ca Việt Nam thời kì cận đại. Ông đặc biệt bởi những tác phẩm của ông thường bao gồm nhiều thể loại  tập trung vào cả hai mảng trào phúng và trữ tình. Ông đặc biệt bởi những bài thơ thành công tuyệt vời khi viết về phụ nữ, mà nhân vật chính không ai khác là vợ mình. Nhắc đến Tú Xương không thể không nói đến "Thương vợ", vì đây là một trong những bài thơ hay nhất của ông và cũng là bài thơ về vợ hay nhất trong thơ ca Việt Nam.

Loading...

Tú Xương là anh Nho sinh quê Nam Định, cưới vợ năm 16 tuổi. Vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn quê Hải Dương. Cuộc đời ông gắn liền với thi cử học hành, đúng kiểu Nho sĩ-nghệ sĩ-trí thức thời phong kiến. Do đó mà mở đầu bài thơ ông đã tái hiện rõ nét hoàn cảnh gia đình ông bà Tú, hoàn cảnh xã hội và phong cảnh đậm đặ trưng của nông thôn miền Bắc:

"Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng,

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông"

Không hiện lên hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp lộng lẫy, không rạng ngời thướt tha hay cao sang mỹ miều, "nàng thơ" của ông Tú xuất hiện bằng cái hình ảnh lặp đi lặp lại ở "mom sông". "Quanh năm", cái chu kỳ thời gian lặp đi lặp lại hàng ngày hàng tháng hàng năm. Hết ngày này sang ngày khác, hết tháng này nối tháng khác, hết năm này tiếp năm sau…Chỉ bằng cách dùng từ ngữ ngắn gọn mà chuẩn xác như vậy, thời gian làm việc, tính chất công việc, môi trường làm việc của bà Tú đã hiện ra đầy đủ, sinh động, đầy cảm xúc. Ta có thể thấy, cái "mom sông" ở làng quê nhỏ, nó gập ghềnh, chênh vênh, không ổn định và cũng rất nguy hiểm. Bấy nhiêu thôi là thấy được cả bầu trời bao la, nắng chói trên đầu, và sông nước trước mặt. Những gian nan khổ nhọc mà bà Tú đang đối mặt hàng ngày có khác gì sự gian nguy mà đáng lẽ ra là những người đàn ông trai tráng khỏe mạnh lực lưỡng phải gánh vác, ấy vậy mà bà vẫn đủ sức "nuôi đủ năm con với một chồng"! 

"Năm con-một chồng"-khi  buột ra những từ ngữ đối về con số tưởng chừng như không cân xứng như vậy, nhà thơ đã có một chút tự châm biếm mình rồi. Ông tự nhận bản thân đặt lên vai vợ gánh nặng bằng cả năm đứa con. Chính ông cũng cảm nhận và thấu hiểu nỗi khổ cực, sự vất vả gian truân của bà Tú trong vai trò làm vợ ông còn nặng hơn gấp nhiều lần so với vai trò làm mẹ của các con ông. Cách ông nhấn mạnh con số "năm con-một chồng" là một cách nói ước lệ thể hiện được quá nhiều điều so với số lượng "năm" hay "một". Bởi vì một mình bà Tú vẫn "nuôi đủ" cả gia đình. Không phải là "nuôi được", "lo xong", mà ông dùng từ mạnh hơn: "nuôi đủ". Đủ ở đây có nghĩa là đầy đủ, tức là đáp ứng được hết các nhu cầu của ông Tú và năm đứa con. Ông đã thể hiện rõ sự kính nể vợ mình, sự nể phục mà không phải người đàn ông nào sống trong xã hội thời kỳ phong kiến cũng có được hay nhận thấy được chứ chưa nói là thể hiện ra như Tú Xương.

"Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông"

Câu thơ sử dụng hình ảnh dân gian quen thuộc rất đỗi thân thương và khơi gợi rất nhiều cảm xúc : con cò. Điều này cho thấy nhà thơ đã chuyển sang thể hiện tình yêu thương vợ. Có yêu vợ, có thương vợ một cách chân thành sâu sắc thì ông mới gợi nhớ gọi liên tưởng về hình ảnh "thân cò", mà cũng là "thân cò" chứ không nói "con cò", tạo ra tứ thơ trữ tình và biểu đạt được tình cảm. Văn học dân gian Việt Nam vẫn thường miêu tả so sánh hình ảnh người phụ nữ cực khổ dải nắng dầm sương, chịu thương chịu khó, gầy gò, cô độc, đảm đang, thanh cao, hết lòng vì chồng vì con, với hình ảnh con cò: 

"Cái cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non"

Và trong văn học dân gian, từ "thân" cũng dành riêng để chỉ hình ảnh cực khổ cô đơn tủi phận của người phụ nữ. ("thận em như dải lụa đào").Ở đây, Tú Xương cũng vận dụng thành công trong việc nói lên thân phận của vợ mình. Hình ảnh thân cò còn đi kèm với "quãng vắng" thì thật sự làm người ta cảm thấy xót xa, trơ trọi, bơ vơ, làm nổi bật sự kiên cường, tấm lòng yêu thương hết mực giúp người phụ nữ vượt qua mọi bất trắc gian nan.

Thế nhưng, không dừng lại ở đó, nhà thơ còn miêu tả được khía cạnh khác trong tính cách con người vô cùng đặc biệt và rất thu hút của bà Tú, đó là cá tính, sự lanh lẹ tháo vát và đầy sức sống khi ở trong môi trường kiếm sống, đó là buổi chợ: "Eo sèo mặt nước buổi đò đông" – bà phải đối mặt với những đôi co, những ồn ào xô bồ, những lời qua tiếng lại của những cuộc trao đổi bán buôn chợ búa, của những tranh giành đốp chát, những va chạm cãi vã thường xuyên để mưu sinh…Nhà thơ miêu tả một bức tranh sinh động, khắc họa chân dung người vợ tảo tần chịu thương chịu khó mà đầy mạnh mẽ mãnh liệt trong xã hội với cuộc sống đầy khó khăn. Với biện pháp đảo từ bên cạnh việc chọn lọc những động từ, tính từ đắt giá đã khiến cho những câu thơ trở nên rất trữ tình mà chân thực, sống động. 

Phân tích bài thơ Thương vợ

Thật ra, đến đoạn này, khi ta tìm hiểu và nhớ lại xuất thân của bà Tú cũng là con nhà gia giáo, mà như cách mà Tú Xương nghĩ đến vợ mình, thì ít ra bà cũng phải được có cuộc sống không quá nhiều gánh nặng như bà đang phải chịu.

Vượt lên trên hết tất cả đó là tình yêu thương và sự trân trọng mà bà Tú nhận được từ chồng mình. Tình yêu thương hết lòng hết dạ tận tụy tảo tần vì chồng con của bà cộng với sự thấu hiểu, biết ơn và tình yêu thương của ông Tú đối với vợ đã khiến cho chất trữ tình trong bài thơ nổi bật hơn hiện thực xã hội lúc bấy giờ.

Mặc dù vậy, trước hiện thực xã hội, hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, nhà thơ cũng đành buồn phiền thốt lên:

"Một duyên, hai nợ âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công"

Vợ chồng là "cái duyên", "cái nợ", nhà thơ như nói thay nỗi niềm của vợ, được hiểu rằng khi đã chấp nhận cái duyên cái nợ ấy, tức là tâm trí, tấm lòng cũng đã thuận theo, sống trọn vẹn, hết mình. Còn ông, ông biết mình là "nợ" của vợ, ông hiểu được những gì vợ ông phải chịu. Tiếng "âu" ông buông ra nghe như cam chịu, bất lực, chua xót thay cho vợ mình. Để rồi, ông phải xót xa thốt lên:

"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không"

Tiếng chửi rất "đời", rất chợ búa! Nhà thơ dùng chính ngôn ngữ chửi bình dân chợ búa đấy, chứ không nho nhã nghệ sĩ như thế giới của ông, để tự chửi mình-hoặc cũng có thể hiểu là lời người khác chửi ông, và chửi cả xã hội thời phong kiến đầy bạc bẽo và bất công.

Ông cũng tự nhận mình là vô dụng, khiến cho vợ có chồng mà "hờ hững cũng như không", khiến cho vợ phải khổ, phải vất vả gánh vác, phải chịu đựng.

Tú Xương viết thơ thể Đường luật thất ngôn bát cú, vốn rất nho nhã trữ tình, nhưng ông lại vận dụng rất thành công cả ngôn ngữ bình dị, làm cho bài thơ tự sự trữ tình càng trở nên độc đáo hơn.

Nếu như bà Tú là người phụ nữ Việt Nam xưa điển hình, chịu thương chịu khó, tận tụy hết mực vì chồng con, thì nhà thơ Tú Xương lại là người nhà thơ và người chồng đặc biệt trong xã hội phong kiến Việt Nam xưa, khi đưa hình ảnh vợ vào trong nhiều bài thơ của mình, và ca ngợi, thể hiện sự trân trọng, biết ơn, thấu hiểu vợ mình một cách khảng khái, tự hào. Điều này còn cho ta thấy cái "tầm" của một nhà thơ khi nhìn nhận, cảm thụ được những tâm tư tình cảm cũng như những vấn đề khác của xã hội. Chính vì vậy mà cho đến ngày nay, "Thương vợ" vẫn là một trong những bài thơ hay nhất viết về vợ.

>>>Xem thêm:

 

Loading...

Check Also

phân tích đoạn 1 bài thơ tây tiến

Phân tích đoạn 1 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng | Làm văn mẫu

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy phân tích đoạn thơ thứ nhất trong bài thơ …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *