Home / SOẠN VĂN / Soạn bài: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)

Soạn bài: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh.

(Bài làm của học sinh Chu Hương Lan).

BÀI LÀM

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Loading...

– Chu Mạnh Trinh: Sinh 1862 và mất 1905, đỗ Tiến Sĩ 1892 (30 tuổi)

+ Ông là nhà thơ tài hoa của thơ ca Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ông thạo đủ cầm, kì, thi hoạ, giỏi về nghệ thuật kiến trúc.

+ Năm 1905 đoạt giải nhất thơ Nôm trong cuộc thi vịnh Kiều tại Hưng Yên.

+ Là người có công trong việc trùng tu, tôn tạo chùa Thiên Trù- ngôi chùa nổi tiếng trong quần thể Hương Sơn.

   – Là người có sáng tác thơ về Hương Sơn được đánh giá là hay nhất từ trước đến nay đực biệt qua bài: Bài ca phong cảnh Hương Sơn.

2. Tác phẩm:

a. Hoàn cảnh sáng tác:

– Bài hát nói này tương truyền được sáng tác năm 1903, trong dịp Chu Mạnh Trinh trùng tu chùa Thiên Trù ở Chùa Hương.

b. Thể loại: hát nói.

c. Bố cục: 3 phần

+ Đoạn 1:  Khổ thơ đầu, “Bầu trời… Có phải” ý của đoạn là cái nhìn bao quát về không gian, tính chất của Hương Sơn.

+ Đoạn 2: 12 câu tiếp theo: “Thỏ thẻ rừng mai.. xếp đặt” gợi tả cảnh vật cụ thể của Hương Sơn.

+ Đoạn 3: Còn lại (3 câu). Sự hoà quyện giữa cảm hứng tôn giáo và lòng yêu thiên nhiên.

II. Đọc – hiểu văn bản

  1. Bốn câu đầu:

– Hương Sơn được giới thiệu từ nhiều góc độ:

 + “Bầu trời cảnh bụt”

  • Bầu trời: cảnh thật
  • Cảnh bụt: cảnh nửa thực nửa ảo.

=> Câu thơ ngắn đặc biệt: Như là lời giới thiệu, gợi mở một miền non nước, một không gian rộng lớn với những cảnh sắc thấm đẫm thiền vị. Gợi không khí tâm linh.

+ “Kìa non non, nước nước, mây mây

“Đệ nhất động” hỏi là đây có phải ?”

  • Đó là không gian của núi non, sông nước, mây trời. Núi non soi mình bên dòng suối Yến. Mây trời lồng lộng trên quần thể Hương Sơn.

->Lời thơ như phảng phất một sự bỡ ngỡ kì thú của nhà thơ. Giọng thơ khoan thai, nhẹ nhàng như­ ru, như mời mọc. Những điệp từ nối nhau vẽ nên sự trùng điệp, mênh mông của cảnh vật, bộc lộ sự rạo rực háo hức bên trong của lòng người.

“Đệ nhất động” hỏi là đây có phải ?” –Câu thơ là một câu hỏi tu từ, bộc lộ niềm ao ước bấy lâu nay được thỏa, đồng thời khẳng định vẻ đẹp tuyệt đỉnh của Hương Sơn.

Soạn bài bài ca phong cảnh Hương Sơn

2. Mười hai câu thơ tiếp theo

   – Trong ba khổ thơ giữa, tác giả tập trung miêu tả những nét đẹp tiêu biểu của Hương Sơn: vẻ đẹp thần tiên siêu thoát, đậm màu thiền và vẻ đẹp kì thú tự nhiên.

– Khổ thơ thứ 2:

+ Hình ảnh: chim, cá, khách tang hải

+Âm thanh: thỏ thẻ, tiếng kinh phật, tiếng chuông chùa

+ Nghệ thuật nhân hóa, đảo ngữ, từ láy: nhấn mạnh sự sinh động của cảnh vật. Chim mổ nhẹ vào trái cây, cá gần như bất động giữa làn nước trong. Trong cảm nhận của tác giả, hình ảnh chim ăm trái giống như động tác cúng vái của phật tử. Con cái bơi lững lờ giống như đang chìm đắm vào tiếng kinh niệm Phật. Trong thế giới ấy, các con vật cũng mang dáng dấp của những tín đồ nhà Phật.

-> vẻ đẹp siêu thoát, thanh tịnh, mang đậm  màu thiền của cảnh trí Hương Sơn.

– Khổ thơ 3+4: tác giả tập trung làm rõ vẻ kì thú tự nhiên mà cũng rất gần gũi thân thuộc của cảnh sắc Hương Sơn:

+ Nghệ thuật điệp ngữ, liệt kê: này suối, này chùa, này hang, này động đã vẽ ra trước mắt người đọc một quần thể phong phú, tưởng không sao kể xiết với hàng loạt kiến trúc thiên tạo và nhân tạo: suối, chùa, hang động: suối Giải Oan, chùa Cửu Võng, hang Phật Tích, động Tuyết Quynh.

+ Cảnh sắc tiêu biểu của Hương Sơn với màu sắc, đường nét cụ thể: đá ngũ sắc, hang lồng bóng nguyệt, lối đi lên uốn tựa thang mây

+ Nghệ thuật:  từ láy gợi hình + so sánh liên tưởng: Long lanh, thăm thẳm, gập ghềnh làm cho cảnh vật trở nên có hồn, phảng phất không khí của thần tiên, xa lánh với cõi trần đầy bụi bặm.

 + Nhịp thơ khoan thai, liền mạch thể hiện sự sảng khoái của du khách. Càng đọc, hình ảnh người du khách càng như mờ đi, hòa vào cảnh vật để thưởng ngoạn, chiêm ngưỡng.

-> Đó là sản phẩm của một cảm hứng thẩm mĩ cao độ. Yêu cái đẹp của cảnh vật đã gắn liền với lòng yêu quê hương đất nước.

– Hai câu thơ là những câu hỏi liên tiếp thể hiện tâm trạng say đắm trước cảnh bầu trời cảnh bụt.

+ Thiên nhiên như cũng đang ngóng đợi tri âm => Người và cảnh hô ứng.

3. Ba câu cuối

 – Xúc động thành kính. Cảm hứng tôn giáo đầy trang nghiêm đối với đạo Phật:

+ Tràng hạt: chuỗi hạt làm thành vòng mà các phật tử thường dùng để lần từng hạt khi đọc kinh, niệm phật.

+ Từ là thương yêu chúng sinh nhất mực như mẹ thương con.
+ Bi là thông cảm sâu sắc với nỗi khổ của chúng sinh

– Cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng tôn giáo và lòng tín ngưỡng Phật giáo. Càng xa càng lưu luyến mê say.

– Sự hoà quyện này biểu lộ giá trị nhân bản cao đẹp và tình yêu quê hương, đất nước trong tâm hồn thi nhân. Nó tạo ra sự thanh cao, tinh khiết, lâng lâng của hồn người. Cảm hứng tôn giáo không phải là sự mê tín dị đoan mà là một nhu cầu tinh thần của một bút pháp tài hoa.

III. Tổng kết:

 1. Nghệ thuật

– Bài ca thể hiện một năng lực thơ ca tài hoa với giọng thơ nhẹ nhàng, bút pháp miờu tả tinh tế gợi cảm, gợi hỡnh.

2. Ni dung

– Miêu tả cảnh vật nên thơ, nên hoạ của Hương Sơn. Đồng thời thể hiện sự hoà quện giữa cảm hứng tôn giáo đầy thành kính, trang nghiêm với tình yêu giang sơn đất nước tươi đẹp.

>>> XEM THÊM: 

Loading...

Check Also

soạn bài chuyện chức phán sự đền tản viên

Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *