Home / SOẠN VĂN / Soạn bài Ca dao hài hước | Làm văn mẫu

Soạn bài Ca dao hài hước | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Ca dao hài hước.

(Bài làm của học sinh Bùi Thị Linh)

Đề bài: soạn bài Ca dao hài hước

BÀI LÀM

I. Tìm hiểu chung

+ Bài 1: Tiếng cười giải trí, tự trào.

Loading...

Ca dao tự trào là những bài ca dao trong đó vang lên tiếng cười tự cười bản thân mình.

+ Bài 2, 3, 4: Tiếng cười phê phán, chế giễu.

Ca dao tự trào là những bài ca dao trong đó vang lên tiếng cười phê phán, chế giễu về một loại người hoặc một thói xấu nào đó.

II. Đọc – hiểu văn bản.

1. Bài ca dao số 1: Ca dao hài hước- tự trào

– Kết cấu: Kiểu đối đáp.

-Tiếng cười tự trào về cuộc sống nghèo khổ được biểu hiện rõ nhất trong cảnh dẫn cưới, thách cưới.

– Lời chàng trai và cô gái đều sử dụng biện pháp trào lộng gây cười : Lời nói khoa trương, phóng đại, lối nói giảm dần, lối đối lập, sử dụng chi tiết, hình ảnh hài hước.

– Trong bài này, cả dẫn cưới và thách cưới đều không bình thường.

+ Lời chàng trai dẫn cưới :

  • Lối nói khoa trương, phóng đại: dẫn voi, trâu, bũ -> sự linh đỡnh, to tỏt.
  • Lời núi giảm dần : voi-> trõu -> bũ -> chuột
  • Lời nói đối lập giữa ý định và việc làm : ý định : dẫn voi, trâu, bũ. Thực tế: dẫn chuột.

Lập luận, lí lẽ mang tính hài hước, hóm hỉnh: Dẫn voi sợ quốc cấm, dẫn trâu sợ máu họ hàn, dẫn bò thì sợ ăn vào co gân.

soạn bài ca dao hài hước

=> Thế thì dẫn bằng thứ gì? tiếng cười bật lên ở câu “Miễn là cú thỳ bốn chõn – Dẫn con chuột bộo mời dõn mời làng”.

=> Cách nói của chàng trai trang trọng, cách lập luận có lý nhưng vẫn tức cười. Tiếng cười càng về sau càng bật lên thoải mái vì sự thật anh nông dân làm gì có voi, trâu, bò mà dẫn cưới. Nhưng anh lại nói như là có đủ chỉ vì sợ này, sợ nọ mà đành không dẫn những thứ đó thôi. Và làm gì có ai dẫn cưới bằng chuột? dù chuột to đến đâu cũng làm sao có đủ thịt để mời dân làng? cũng là lời bịa. Nhưng tình cảm của chàng trai là thật, là tâm hồn chân thật lạc quan vui vẻ của anh.

+ Lời thách cưới của cụ gỏi :

. Không ngạc nhiên trước lễ vật dẫn cưới đặc biệt của chàng trai.

  • Khen là sang nhưng không phá ngang và vẫn nói lời thách cưới:

. “Một nhà khoai lang”: Vì cô biết rõ nhà chàng trai rất nghèo; nhưng lối núi khụng phải một củ mà là “một nhà khoai lang” làm ta cười và cũng làm ta nghĩ tới mong ước mùa màng bội thu ở nông thôn xưa.

. Cô gái giải thích vì sao lại thách nhiều như vậy một cách cụ thể theo trật tự giảm dần: Củ to – mời làng, củ nhỏ – mời họ hàng ăn chơi, củ mẻ – trẻ ăn giữ nhà, củ hà – nuôi súc vật.

=> Sự đảm đang, tháo vát của bà chủ nhà tương lai và thấy được tình cảm đậm đà của cô gái nghèo với họ hàng, làng xóm , gia đình và cuộc sống êm đềm trong nhà ngoài xóm.

=> Tiếng cười bật lên để chia sẻ với cuộc sống còn khốn khó của người lao động. Đằng sau tiếng cười ấy là sự phê phán, sự thách thức nặng nề ngày xưa.

2. Bài ca dao số 2

-Tiếng cười trào lộng khác hẳn bài 1 bởi tiếng cười ở bài 1 làm vui cửa, vui nhà thì tiếng cười ở  bài 2 chủ yếu là phê phán.

– Kết cấu: độc thoại

– Mục đích : Chế giễu những ông chồng.

Đây là ca dao hài hước, phê phán trong nội bộ nhân dân nhằm nhắc nhở nhau tránh những thói hư tật xấu ngừơi đàn ông mắc phải.

– Nghệ thuật đối lập: Câu 1 đối lập với câu 2.

– “Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng”: tư thế khom lưng, chống gối rất ra sức, cố gắng nhưng chỉ để gánh hai hạt vừng (quá nhỏ bé).

-> Vừa phóng đại, cường điệu, vừa nói giảm,  đối lập => Chế giễu loại đàn ông yếu đuối, không đáng mặt đàn ông.

>>> XEM THÊM : 

Loading...

Check Also

soạn bài chuyện chức phán sự đền tản viên

Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *