Home / SOẠN VĂN / Soạn bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa | Làm văn mẫu

Soạn bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.

(Bài làm của học sinh Ngô Thùy Dương).

Đề bài: Soạn bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

BÀI LÀM

 

Loading...

I. Tìm hiểu chung
1. Định nghĩa ca dao (Tham khảo bài: Khái quát VHDG Việt Nam)
2. Phân loại: có 3 nhóm
– Ca dao than thân: là những câu hát cất lên từ những cuộc đời còn nhiều xót xa cay đắng
– Ca dao yêu thương tình nghĩa là những bài ca dao diễn tả tình yêu thương, ân tình, nghĩa tình như: tình cảm gia đình, bạn bè, tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương đất nước, con người
– Ca dao hài hước: là những bài ca dao dùng để giải trí, châm biếm đả kích
3. Đặc điểm nghệ thuật
– Thể  thơ: phần lớn là lục bát hoặc lục bát biến thể, ngoài ra còn có thể song thất lục bát, vãn bốn, vãn năm.
– Giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ và nhiều biểu tượng mang tính truyền thống: hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con đò, con thuyền…
– Hình thức lặp lại cũng rất phổ biến trong ca dao: kết cấu, hình ảnh, công thức ngôn từ…
– Ngôn ngữ: gần với ngôn ngữ hàng ngày, mang đậm tính địa phương và dân tộc.
4. Phương pháp khai thác
(Bài học thuộc phạm vi giảm tải. Chỉ dạy các bài ca dao 1,4,6)
– Ca dao than thân: Bài 1
– Ca dao yêu thương tình nghĩa bài 4, 6.

II. Đọc hiểu văn bản

1. Ca dao than thân (bài 1)

– Bài ca dao mở đầu bằng cụm từ: “thân em như…”. Lối mở đầu này xác định rõ đây là lời than thân của người phụ nữ. Đồng thời, còn gợi lên sự ngậm ngùi, xót xa, cảm thương, có tác dụng nhấn mạnh, gây sự chú ý với người nghe, người đọc.

– Hình ảnh so sánh “tấm lụa đào” là hình ảnh gợi cảm vừa mềm mại, dịu dàng như bản tính cố hữu của người phụ nữ, vừa tươi tắn sắc đào như sức sống mãnh liệt của tâm hồn.

=> Nhân vật trữ tình ý thức được sắc đẹp, tuổi xuân và giá trị của mình .

– Nhưng số phận của họ thật chông chênh, không biết sẽ vào tay ai “Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”: Người phụ nữ cảm thấy mình không khác gì một món hàng để trao đổi bán mua, dù món hàng có đẹp cũng chỉ là đồ trang sức, vật trao đổi.

=> Sự đối lập giữa hai dòng thơ cho thấy người con gái trong bài ca dao đang thấm thía nỗi lo đau đáu. Mình sẽ đi về đâu trong dòng đời trong, đục khó phân.

soạn bài ca dao than thân yêu thương tình nghĩa

2. Ca dao yêu thương tình nghĩa

a. Bài 4:

– Nhân vật trữ tình

là cô gái với tâm trạng đang nhớ nhung người yêu.

– Kết cấu của bài ca dao :

+ 10 câu đầu: Nỗi nhớ thương

+ 2 câu cuôi: Nỗi lo phiền

* Nỗi thương nhớ của cô gái

– Nhân vật trữ tình là cô gái, cô gái đang ở tâm trạng nhớ nhung vời vợi…

– Nỗi nhớ ấy thể hiện qua các từ thương, nhớ hay những câu hỏi thương nhớ ai? láy đi láy lại tha thiết suốt bài ca.

– Cái khăn được cô gái hỏi đến đầu tiên và nhiều nhất, trong suốt 6 câu thơ đầu (nửa bài ca). Bởi cái khăn cũng như cái áo đã trở thành biểu tượng của tình yêu nam nữ, thường là vật trao duyên…

– Nhưng đặc biệt nhất, chiếc khăn được miêu tả gắn liền với những trạng thái cụ thể xuống, lên, rơi, vắt…Cố nhiên đó là những động thái con người tạo ra ở chiếc khăn.

ð Đây là một nỗi nhớ không định hình, định khối mà như mênh mang khắp không gian.

– Nỗi nhớ tiếp tục được gửi vào hình tượng ngọn đèn thao thức suốt đêm thâu…

– Và cuối cùng dường như không kìm lòng được nữa cô gái hỏi chính lòng mình:

Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên.

ð Như vậy nỗi nhớ được diễn tả trong 10 câu thơ 4 chữ rất dồn dập, có sự vận động dâng trào, từ gián tiếp đến trực tiếp (từ khăn đến đèn đến mắt) từ bề rộng đến bề sâu, từ không gian, thời gian đến tâm thức con người… khắc khoải, thiết tha. Có 16 thanh bằng gợi nỗi nhớ thương bâng khuâng da diết (đậm màu sắc nữ tính của người con gái biết kìm nén cảm xúc không bộc lộ một cách dễ dãi).

* Nỗi lo phiền của cô gái

– Đến hai câu kết, kết cấu lời thơ bỗng có sự chuyển biến từ những câu thơ 4 chữ dồn dập sang thể lục bát nhẹ nhàng hơn, nhưng cũng xao xuyến hơn, rung động hơn. Nó  phù hợp để diễn tả một niềm lo âu mênh mang của cô gái.

– Cô gái lo âu cho số phận của mình, duyên phận lứa đôi “không yên một bề”. Đó là nỗi lo phiền không chỉ riêng của cô gái mà của tất cả người phụ nữ trong xã hội xưa. ​

b. Bài 6:

– Thể thơ song thất lục bát (7-7-6-8) có biến thể sáng tạo ở câu 8, tăng thêm đến 13 tiếng.

Nhân vật trữ tình bày tỏ nghĩa tình chung thuỷ thông qua hình ảnh mang tình tượng trưng: gừng và muối.

Muối mặn, gừng cay đã trở thành biểu tượng cho những đắng cay, cơ cực, nhọc nhằn của cuộc sống mà con người phải trải qua.

– Điều đặc biệt là hình ảnh trên lại là biểu tượng cho nghĩa tình chung thuỷ của vợ chồng:

Muối rang ba năm muối đang còn mặn

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

– Hương vị của gừng, muối đã trở thành hương vị của tình người: Đôi ta nghĩa nặng tình dày/ Có xa nhau đi nữa…

– Bài ca dao sử dụng lối nói trùng điệp, nhấn mạnh, tiếp nối: muối, gừng, hãy còn, đang còn… để cuối cùng đi đến một khẳng định sắt son của lòng chung thuỷ: Có xa nhau đi nũa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Cách nói ba vạn sáu ngàn ngày tức là một trăm năm- tức là một đời người mới cách xa, có nghĩa là không bao giờ xa cách cả.

III. Tổng kết

1. Nội dung: Chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa thể hiện nỗi niềm chua xót đắng cay và tình cảm yêu thương chung thuỷ của người bình dân trong xã hội cũ.

2. Nghệ thuật :

+ Sử dụng mô típ mở đầu “ Thân em”, “Ước gì”

+ Các hình ảnh thành biểu tượng trong ca dao 

+ Hình ảnh so sánh, ẩn dụ

+ Thể lục bát, thể bốn chữ, lục bát biến thể.

>>> XEM THÊM : 

Loading...

Check Also

soạn bài chuyện chức phán sự đền tản viên

Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *