Home / SOẠN VĂN / Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Đặng Trần Côn) | Văn mẫu

Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Đặng Trần Côn) | Văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – em hãy soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm) của Đặng Trần Côn.

(Bài làm của học sinh Trần Thị Tuyết)

Đề bài: Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm) của Đặng Trần Côn

BÀI LÀM

 

Loading...

1. Tác giả – Dịch giả

a. Đặng Trần Côn:

– Sống vào thế kỉ XVIII, quê Hà Nội.

– Là người thông minh, học giỏi;

– Tác phẩm: Chinh phụ ngâm, thơ, phú chữ Hán…

b. Đoàn Thị Điểm (1705-1748):

– Hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, người làng Giai Phạm, Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay là Hưng Yên)

– Nổi tiếng thông minh, lấy chồng muộn (37 tuổi);

– Bà còn là tác giả của tập truyện chữ Hán Truyền kì tân phả.

2. Tác phẩm Chinh phụ ngâm

– Được sáng tác bằng chữ Hán, gồm 478 câu thơ theo thể trường đoản cú.

– Hoàn cảnh sáng tác: chiến tranh phong kiến liên miên. Nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận.

– Tác giả lấy cảm hứng trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh.

– Nhan đề và thể loại : Chinh phụ ngâm là khúc ngâm của người vợ có chồng đi chinh chiến. Khúc ngâm là thể loại trữ tình dài hơi, thuần Việt, dùng để ngâm nga, than vãn.

–  Tác phẩm diễn tả rất thành công tâm trạng của người chinh phụ xa chồng với nhiều trạng thái cảm xúc: nhớ thương, lưu luyến, oán trách, khao khát, mong đợi… nhưng bao trùm lên tất cả là một nỗi buồn rầu triền miên, da diết. Tác phẩm là tiếng nói oán trách chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đòi quyền sống hạnh phúc cho lứa đôi. Đó chính là giá trị nhân văn sâu sắc và tiến bộ của tác phẩm.

– Tác phẩm được dịch ra chữ Nôm theo thể loại ngâm khúc song thất lục bát (hai câu bảy đi liền một câu sáu và câu tám cứ thế kéo dài cho đến hết.

3. Đoạn trích:

* Vị trí của đoạn trích: đoạn trích được trích từ câu 193 đến câu 216 : toàn bộ đoạn trích là tâm trạng của người chinh phụ khi người chinh phu đi đánh trận, không có tin tức, không rừ ngày về.

* Đọc đoạn trích:

* Bố cục:

– Đoạn trích có thể chia làm 2 đoạn:

+ Đoạn một: 16 câu đầu: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh một mình một bóng bên đèn, ngoài hiên.

+ Đoạn 2: còn lại là niềm nhớ thương chồng ở phương xa.

Mạch tự tình của đoạn trích:

+ Câu 1- câu 8: Tâm trạng của người chinh phụ trong không gian cô tịch.

+ Câu 9 – câu 12: Tâm trạng của chinh phụ qua cảm nhận về thời gian.

+ Câu 13 – câu 16: Những hành động gắng gượng của chinh phụ.

+ Câu 16 đến hết: Nỗi lòng của người chinh phụ.

soạn bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

II. Đọc –hiểu văn bản

1. Tâm trạng người chinh phụ trong không gian cô tịch (8 câu đầu):

Không gian: căn phòng vắng vẻ, cô tịch

Hành động lặp đi, lặp lại: dạo hiên vắng rồi lại vào phòng, hết đứng lại ngồi, buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, chờ nghe chim thước báo tin mà chẳng thấy.

=> Thẫn thờ mong ngóng tin chồng.

– Hình ảnh ngọn đèn: Người thiếu phụ đối diện với ngọn đèn trong không gian cô quạnh mong tìm kiếm một sự sẻ chia. Ngọn đèn vô tri, người chinh phụ đối diện với nỗi cô đơn. Vò võ một mình một bóng, lặng lẽ cho tới lúc dầu cạn, đêm tàn. Ngọn đèn và bóng người đều tàn tạ.

-> Đoạn thơ đầu đã diễn tả tâm trạng của chinh phụ trong không gian cô tịch, chờ mong tin chồng đến thẫn thờ mà chẳng thấy, khao khát sự sẻ chia mà suốt đêm thâu phải đối diện với nỗi cô đơn, võ vàng tàn tạ theo thời gian.

2. Tâm trạng của người chinh phụ trong cảm nhận về thời gian (câu 9-12):

– Đêm trôi qua báo hiệu bằng tiếng “gà gáy eo óc”, ngày tiếp nối chỉ có “bóng cây hoè phất phơ”. Tất cả trôi đi trong đơn điệu, nhàm tẻ -> Hai từ láy vừa tả ngoại cảnh vừa gợi tâm trạng buồn bã, não nuột của chinh phụ: “eo óc” “phất phơ”.

– “đằng đẵng” -> mỗi khắc giờ trong cảm nhận của chinh phụ như kéo dài, nặng nề, đeo đẳng.

– “dằng dặc” -> mối sầu tràn ra ngoại cảnh, trải dài theo không gian tưởng như vô cùng vô tận.

=> Những từ láy được sử dụng tài tình, vừa để biểu đạt không gian, thời gian vừa thể hiện độ mênh mang không gì đo đếm được của nỗi nhớ chồng trong lòng chinh phụ.

3. Những hành động gắng gượng của chinh phụ (câu 13-16)

– Từ “gượng” lặp lại ba lần diễn tả những gắng gượng của chinh phụ mong thoát khỏi vòng vây của cảm giác lẻ loi cô đơn:

+ gượng đốt hương – càng mê mải chìm đắm trong nỗi nhớ nhung.

+ gượng soi gương để trang điểm nhưng nhìn bóng mình trong gương  chinh phụ không cầm nổi nước mắt.

+ gượng gảy đàn – đàn sắt đàn cầm hoà âm ví như cảnh vợ chồng đoàn tụ, dây đàn uyên ương là biểu tượng của lứa đôi gắn bó như đôi chim uyên ương. Những biểu tượng ấy càng khơi dậy nỗi niềm khao khát lứa đôi của chinh phụ. Vì thế  ba chữ gượng như diễn tả cảm giác vô duyên, trớ trêu trước cảnh ngộ.

4 – Nỗi lòng của chinh phụ (còn lại)

– Nỗi nhớ mong và khao khát được gặp gỡ chồng, sau những hành động gắng gượng, không được dập tắt mà càng trào dâng mãnh liệt, cất lên thành tiếng lòng tha thiết: chinh phụ muốn gửi lòng mình theo  gió đông tới nơi chồng đóng quân.

– Theo ngọn gió mùa xuân, tâm trạng của chinh phụ tràn ngập cả không gian vũ trụ . Từ láy thăm thẳm hai lần xuất hiện gắn với hai từ “lên” và “xa” :

          “Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

               Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”

đã tái hiện một không gian ba chiều của một vũ trụ không cùng, vời vợi niềm thương nhớ.

– Từ láy “đau đáu” khiến người đọc hình dung nỗi nhớ chồng của chinh phụ da diết, xoáy sâu, cơ hồ hoá thành nỗi đau thăm thẳm.

Hai câu thơ cuối có chức năng chuyển đoạn từ không gian khuê phòng sang không gian ngoại cảnh ở đoạn sau, diễn tả sự đồng điệu của ngoại cảnh với lòng người chinh phụ: tiếng côn trùng trong đêm mưa rả rich, cành cây đẫm sương đêm như cùng hoà điệu với nỗi tha thiết não nề trong lòng chinh phụ.

=> Thấy được sự chán ghét chiến tranh phi nghĩa.

III. Tổng kết

1. Nội dung:

 – Đoạn trích đã miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Đó chính là tiếng nói phản kháng chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đòi quyền sống hạnh phúc cho con người đã âm vang trong toàn tác phẩm, mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Vì thế, “Chinh phụ ngâm” góp phần làm nên trào lưu nhân văn chủ nghĩa trong văn học dân tộc cuối thế kỉ XIII- đầu thế kỉ XIX.

2. Nghệ thuật: 

Thể thơ song thất lục bát tạo âm điệu triền miên da diết

Sự lặp lại của hành động cùng vói nghệ thuật lặp vòng của từ ngữ thể hiện thời gian trôi đi nhàm tẻ đơn điệu trong vòng tròn của sự mong nhớ, nỗi sầu bi.

– Những từ láy được sử dụng tài tình, vừa miêu tả không gian, thời gian, ngoại cảnh vừa diễn tả tâm trạng chinh phụ ở nhiều cung bậc , sắc thái khác nhau.

>>> XEM THÊM : 

Loading...

Check Also

soạn bài phương pháp thuyết minh

Soạn bài Phương pháp thuyết minh | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Phương pháp thuyết minh. (Bài làm …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *