Home / SOẠN VĂN / Soạn bài: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu | Văn mẫu

Soạn bài: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu | Văn mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

(Bài làm của học sinh Trần Thị Thắm)

BÀI LÀM

1.Tìm hiểu chung

a.Hoàn cảnh sáng tác

Loading...

– Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Trận Cần Giuộc là một trận đánh lớn của quân ta diễn ra đêm 14/ 12/ 1861, hơn 20 nghĩa quân đã hi sinh anh dũng. Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu cụ Đồ Chiểu viết bài văn tế. Ngay sau đó vua Tự Đức ra lệnh phổ biến bài văn tế trong các địa phương khác.

– Như vậy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không đơn thuần là sản phẩm của nghệ thuật cá nhân mà còn là sản phẩm mang tính chất nhà nước, thời đại.

2. Thể loại, bố cục

a.Thể loại: Văn tế

– Khái niệm: là loại văn gắn với tang lễ, bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã khuất.

– Đặc điểm: gồm 2 nội dung

+ Kể lại cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất.

+ Bày tỏ nỗi đau thương của người còn sống

+ Âm hưởng: bi thương, lâm li, thống thiết

– Viết theo nhiều thể: văn xuôi, lục bát, phú…

-> Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc viết theo thể phú tạo nên sự đĩnh đạc, trang trọng.

c. Bố cục: 4 đoạn

– Đoạn lung khởi (2 câu đầu): khái quát bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân nghĩa sĩ.

– Đoạn thích thực (câu 3-> câu 15): Tái hiện vẻ đẹp hình ảnh của người nông dân nghĩa sĩ trong chiến đấu.

– Đoạn ai vãn (câu 16-> câu 28): niềm thương tiếc và cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ.

+ Đoạn kết (khốc tận, 2 câu cuối): Ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ

2. Đọc – hiểu văn bản

Soạn bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

a. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ:

*  Bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết của những người nông dân nghĩa sĩ:

-Hình ảnh không gian to lớn: đất, trời + Từ ngữ chỉ trạng thái biến động: rền, tỏ

->Tạo ấn tượng hoành tráng cho bức chân dung tượng đài sẽ được khắc học.

-Nghệ thuật đối lập:

  + Súng giặc đất rền (thế lực xâm lược tàn bạo) >< lòng dân trời tỏ (ý chí, quyết tâm đánh giặc cứu nước)

->Bối cảnh và tình thế căng thẳng, khốc liệt của thời đại bão táp – thời đại “khổ nhục nhưng vĩ đại”.

+ Trận chiến tuy thất bại, người nghĩa sĩ tuy hi sinh nhưng tiếng thơm, thanh danh còn vang vọng mãi.

*  Nguồn gốc của người nghĩa sĩ:

   + Họ xuất thân từ tầng lớp nông dân nghèo, cả đời gắn với mảnh ruộng.

    + Họ hoàn toàn xa lạ với việc nhà binh: không quen đeo cung ngựa, chỉ quen mặc áo vải đi cày, không quen nhung phục, bãi chiến trường.

->Nhấn mạnh nguồn gốc nông dân thuần túy, NĐC lòng yêu thương, cảm thông với những con người bình dị, lam lũ, nhọc nhằn quanh năm mưu sinh trên mảnh ruộng, trông mong trời êm bể lặng, đất nước không giặc giã.

*       Sự chuyển biến tư tưởng, tình cảm của người nông dân

    + Khi giặc đến lòng căm thù của họ thức dậy, mạnh mẽ và quyết liệt theo kiểu nông dân. Họ diễn tả tâm trạng bằng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc hàng ngày (ghét thói mọi…, muốn ăn gan, cắn cổ…): màu sắc đối lập gay gắt, mùi vị khó chịu -> nỗi căm hận sục sôi.

+ Theo truyền thống, họ trông ngóng tha thiết vào triều đình nhưng không có hồi âm.

+Nhận thức về ý thức thống nhất đất nước và trách nhiệm  bản thân: họ tự nguyện tham gia vào đội quân chiến đấu. Từ “cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó” họ vụt trở thành nghĩa sĩ “ra sức đoạt kình, dốc ra tay bộ hổ.”

     Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong “trận nghĩa đánh Tây”:

+ không khí khẩn trương, sôi nổi của trận mạc: tiếng trống dồn dập >< âm thanh của đạn nhỏ đạn to không mảy may cản bước chân họ

    + Vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng đã đi vào lịch sử: vũ khí thô sơ: ngọn tầm vông, manh áo vải, rơm con cúi, lưỡi dao phay + vũ khí: “lòng dân”.

    + Với trang bị như vậy nhưng họ lại lập được nhiều chiến công (đốt nhà thờ, chém rớt đầu quan hai Pháp, đạp rào lướt tới coi giặc như không, xô cửa xông vào, liều mình, đâm ngang, chém ngược làm thất điên bát đảo quân thù).

    + Nghệ thuật: Hình tượng người anh hùng được khắc hoạ bằng bút pháp hiện thực, chi tiết chân thực + nhịp điệu dồn dập của câu văn + động từ mạnh tạo nên khúc tráng ca về tinh thần kiên cường của đoàn quân nghĩa sĩ nông dân áo vải với khí thế tấn công như vũ bão, như thác đổ.

+ Sự đối lập về vũ khí, trang bị giữa ta về địch càng làm tăng thêm vẻ đẹp của quân ta và lột tả sự bi thảm của quân địch.

 -> Bức tượng đài được chạm nổi sừng sững tư thế tấn công, mang vẻ đẹp hiên ngang, bất khuất, kiên cường, đẹp trong tư thế ngẩng cao đầu, tay cầm vũ khí.

-> Chỉ đến NĐC lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân VN mới chiếm lĩnh trọn vẹn một tác phẩm văn chương đẹp nhường ấy với vóc dáng đích thực của mình và được ngợi ca như những người anh hùng thời đại.

b. Tiếng khóc cho những người nông dân nghĩa sĩ, cho thời đại đau thương quật khởi.

-Cả bài văn tế là một tiếng khóc dài. Tiếng khóc bắt đầu từ lời than “Hỡi ôi!” đau xót, từ lời bồi hồi tưởng nhớ “nhớ linh xưa”, từ tiếng kêu thảng thốt “Ôi thôi thôi”

+Nước mắt trào ra, tuôn chảy thành vô vàn hàng lệ nước mắt anh hùng lau chẳng ráo.

+thành những câu hỏi vì ai

+Thành tiếng nức nở đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc…

  • Người viết văn tế khóc, già trẻ  trai gái chợ Trường Bình khóc, mẹ già khóc, vợ yếu khóc, chùa Tông Thạnh khóc, cỏ cây khóc, sông Cần Giuộc cũng khóc.

-Con người, cỏ cây sông núi chìm trong đau thương, trong tiếng khóc. Họ khóc cho những nghĩa sĩ phải hy sinh  khi sự nghiệp còn dang dở, chí nguyện chưa thành. Họ khóc cho tình cảnh đau thương của đất nước.

– Tiếng khóc đau thương nhưng không hề bi lụy bởi vì ngoài sự uất ức nghẹn ngào, tiếc hận là nỗi căm hận tột độ kẻ thù đã gây lên.

    + Đặc biệt là niềm cảm phục và niềm tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên chống lại kẻ thù hung bạo.

    + Bài văn tế thay mặt nhân dân biểu dương công trạng của người nông dân nghĩa sĩ đã làm sáng ngời chân lĩ thời đại: thà chết vinh còn hơn sống nhục.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật

– Chất trữ tình, cảm xúc chân thành, sâu nặng, mãnh liệt.

– Ngôn ngữ giản dị, dân dã nhưng có chọn lọc tinh tế, có sức biểu cảm lớn vừa trang trọng, vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ

– Giọng điệu thay đổi theo dòng cảm xúc: lúc thì sôi nổi hào hứng, lúc thì trầm lắng như nức nở, xót xa, lúc như tiếng thương ai oán…

2. Ý nghĩa văn bản

– Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nghĩa sĩ nông dân

– Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân có mặt ở vị trí trung tâm và hiện ra với tất cả vẻ đẹp vốn có của họ.

>>> XEM THÊM: 

Loading...

Check Also

soạn bài chuyện chức phán sự đền tản viên

Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *