Home / SOẠN VĂN / Soạn bài Ôn tập văn học Trung đại Việt Nam | Văn mẫu

Soạn bài Ôn tập văn học Trung đại Việt Nam | Văn mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Ôn tập văn học trung đại Việt Nam.

(Bài làm của học sinh Nguyễn Thị Minh).

Đề bài: Soạn bài Ôn tập văn học trung đại Việt Nam

BÀI LÀM

I. Hệ thống chương trình Văn học trung đại trong Ngữ văn 11:

Loading...

TT

TG-TP

Thể loại

Nội dung

Nghệ thuật

1

Vào phủ chúa Trịnh

(trích Thượng kinh kí sự)

– Lê Hữu Trác

 Kí

Bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý nơi phủ chúa Trịnh và thái độ coi thường lợi danh của tác giả.

– Quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, lựa chọn chi tiết đặc sắc, đan xen tác phẩm thơ ca.

2

Tự tình – Hồ Xuân Hương

Thơ thất ngôn bát cú ĐL

– Tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương; đau buồn, cô đơn, khao khát hạnh phúc tuổi xuân. Bà phẫn uất, muốn bứt phá khỏi cảnh ngộ nhưng vẫn rơi vào bi kịch

 đảo trật tự cú pháp; đối sử dụng những động từ mạnh, biện pháp nói tăng tiến…

3

Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến

Thơ thất ngôn bát cú ĐL

 

– Bức tranh thiên nhiên đặc trưng cho phong cảnh mùa thu ở vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ.

– Tình yêu quê hương, đất nước và tâm sự thời thế của tác giả.

– Lựa chọn hình ảnh tiêu biểu, cách gieo vần độc đáo.

4

Thương vợ – Trần Tế Xương

Thơ thất ngôn bát cú ĐL

 

– Miêu tả hình ảnh cơ cực, tần tảo và ca ngợi đức hy sinh của bà Tú.

– Cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc với sự kết hợp của chất trữ tình và trào phúng.

– Tiếp thu sáng tạo từ ca dao.

5

Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ

Hát nói

– Đề cao lối sống tự do, phóng khoáng và sự khẳng định bản lĩnh cá nhân của tác giả.

-Tấm lòng của nhà thơ đối với đất nước.

 

– Kết hợp hài hoà giữa chất nhạc và thơ, giữa việc sử dụng từ Hán Việt với từ thuần Việt…

6

Bài ca ngắn đi trên bãi cát

-Cao Bá Quát

Hành

– Chán ghét con đường công danh tầm thường; tâm trạng mệt mỏi, bế tắc; khát khao thay đổi cuộc sống đương thời, khát khao một sự đổi mới..

-Hình tượng thơ  độc đáo, sáng tạo. Câu thơ dài ngắn khác nhau + cách ngắt nhịp tạo nên nhịp điệu của bài ca

7

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Văn tế

– Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nông dân nghĩa sĩ qua nguồn gốc xuất thân, sự chuyển biến tư tưởng, lòng căm  thù giặc sục sôi và tinh thần chiến đấu quả cảm

– Tấm lòng của tác giả, nhân dân Nam Bộ trước sự hi sinh của những anh hùng nghĩa sĩ.

– Khắc hoạ thành công hình tượng người nghĩa binh nông dân nghĩa sĩ – lần đầu tiên xuất hiện trong thơ văn với tư cách là một nhân vật: kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và hiện thực, ngôn ngữ bình dị, trong sáng.

8

 

Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm

 

Chiếu

– Chủ trương cầu hiền đúng đắn, tầm chiến lược sâu rộng, tấm lòng vì dân, vì nước của vua Quang Trung.

– Lập luận chặt chẽ, cách diễn đạt tinh tế, lời lẽ đầy tâm huyết, giàu sức thuyết phục.

9

Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến

Lục bát

– niềm suy tưởng, nỗi xót xa vô hạn khi nghe tin bạn mất. Đồng thời ca ngợi tình bạn keo sơn, gắn bó giữa tác giả và Dương Khuê

-Ngôn ngữ giàu cảm xúc, điệp từ, nói giảm nói tránh, sử dụng điển cố điển tích…

10

Vịnh khoa thi hương – Trần Tế Xương

Thơ thất ngôn bát cú ĐL

 

-Thái độ châm biếm sâu cay của tác giả trước thực tại xã hội thi cử lôm côm, đồng thời cũng khẳng định ý thức, tinh thần dân tộc của Tú Xương

-kết hợp châm biếm trào phúng với trữ tình

-Đảo ngữ, đối lập

11

Chạy giặc – Nguyễn Đình Chiểu

Thơ thất ngôn bát cú ĐL

 

-Tình cảnh nhân dân những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ.

-Sự cảm thương của tác giả đối với nhân dân và thái độ căm ghét, lên án đối với thực dân Pháp

– Ngôn ngữ giàu cảm xúc, tả thực, ẩn dụ, hoán dụ, đảo ngữ, câu hỏi tu từ…

12

Bài ca phong cảnh Hương Sơn – Chu Mạnh Trinh

Ca trù/ Hát nói

-Miêu tả cảnh đẹp nên thơ nên họa của Hương Sơn.

– Thể hiện sự hòa quyện giữa cảm hứng tôn giáo đầy thành kính, trang nghiêm với tình yêu đất nước tươi đẹp.

-Giọng thơ nhẹ nhàng, bút pháp miêu tả gợi cảm, gợi hình…

13

Xin lập khoa luật – Nguyễn  Trường Tộ

Điều trần

Khẳng định vai trò, vị trí và sự cần thiết của việc lập khoa luật đôi với đất nước

Lập luận chặt chẽ, câu hỏi tu từ…

Tổng hợp: có 13 tác phẩm (8 đọc văn, 5 đọc thêm) và 8 thể loại

II. Ôn tập về nội dung văn học trung đại VN:

1. Cảm hứng yêu nước:

*Là nội dung xuyên suốt văn học Việt Nam và là đặc điểm lớn của văn học Trung đại. Nó vô cùng phong phú, đa dạng: là âm hưởng hào hùng khi chiến đấu và chiến thắng ngoại xâm, là âm hưởng bi tráng khi nước mất nhà tan, là giọng điệu thiết tha khi đất nước thái bình thịnh trị.

– Từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX có hai sự kiện cần chú ý đã tác động tới cảm hứng yêu nước trong văn chương:

+ Một là chế độ phong kiến từ khủng hoảng đến suy thoái. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra. Đáng lưu ý là cuộc khởi nghĩa của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã lật đổ các tập đoàn phong kiến đàng Trong, đàng Ngoài, đánh tan các cuộc xâm lược của quân xiêm ở phía Nam, quân Thanh ở phía Bắc. Phong trào Tây Sơn suy yếu. Nguyễn Ánh khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế. Đất nước đứng trước hiểm hoạ xâm lược của thực dân Pháp.

– Hai là thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858). Nhân dân Nam Bộ, lần lượt cả nước kiên cường bất khuất đứng lên chống giặc ngoại xâm. Nhưng các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Năm 1884, thực dân Pháp hoàn toàn chiếm lĩnh nước ta, xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến. Văn hoá phương Tây bắt đầu có ảnh hưởng tới đời sống văn hoá Việt Nam.

* Cảm hứng yêu nước trong văn học Trung đại từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX biểu hiện:

   – Biết ơn và ca ngợi những người hi sinh vì đất nước

   – Yêu nước gắn liền với căm thù giặc

   – Tình yêu thiên nhiên đất nước (Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh)…

   * Những điểm mới của ND yêu nước so với giai đoạn trước:

– Ý thức về vai trò của người trí trức đối với đất nước ( Chiếu cầu hiền- Ngô Thì Nhậm).

 – Tư tưởng canh tân đất nước ( Xin lập khoa luật- Nguyễn Tường Tộ).

 – Tìm hướng đi cho cuộc đời trong hoàn cảnh bế tắc ( Bài ca ngắn đi trên bãi cát- Cao Bá Quát).

 – Cảm hứng bi tráng gắn với hoàn cảnh lịch sử ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu)…

* Phân tích một số tác phẩm để làm rõ cảm hứng yêu nước.

Bài hát ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

     + Cảm nhận xót xa, u buồn trước tình cảnh đất nước

    + Cảm nhận được tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ chưa tìm được lối ra trong cuộc đời để thi thố lo đời giúp nước.

– Hương Sơn phong cảnh ca

    + Cảm nhận được cái đẹp thiên nhiên đất nước

    + Cảm nhận hài hoà giữa tôn giáo (đạo Phật) linh thiêng với vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước.

– Xin lập Khoa luật

    + Lòng yêu nước thể hiện ở tầm nhìn của tác giả. Đó là tư tưởng một lòng canh tân cho đất nước. Đất nước phải có pháp luật, mọi người phải sống theo pháp luật.

– Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    + Lòng yêu nước giúp tác giả đề cập tới hoàn cảnh đau thương tủi nhục nhất của đất nước và câu trả lời cũng mạnh mẽ nhất.

    + Tác giả đã tạo nên bức chân dung sừng sững của người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang.

    + Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc còn là tiếng khóc cao cả

   – Khóc cho đất nước, quê hương

   – Khóc cho người chết

   – Khóc cho người sống “Đau đớn mấy… trước ngõ”

=> Khóc làm cho trời sầu đất thẩm “Đoái sông… luỵ nhỏ”

2. Văn học từ đầu thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa.

– Điều đó được căn cứ vào sáng tác của văn học giai đoạn này, chủ yếu là những sáng tác trong bộ phận văn học chữ Nôm. Các tác phẩm văn học giai đoạn này đều tập trung vào vấn đề con người, nhận thức con người, đề cao con người và đấu tranh với mọi thế lực đen tối, phản động của XHPK để khẳng định những giá trị chân chính của con người.

 – Những biểu hiện phong phú, đa dạng của nội dung nhân đạo trong giai đoạn văn học này:

  + Đề cao truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc (Khóc Dương Khuê; Thơ HXH…)

  + Khẳng định quyền sống của con người: Thương cảm trước bi kịch và đồng cảm với khát vọng của con người, Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp quyền sống con người

  + Khẳng định con người cá nhân.

– Vần đề cơ bản nhất của nội dung nhân đạo trong văn học từ thế kỉ XVIII đền hết thế kỉ XIX chính là khẳng định quyền sống con người là vấn đề cơ bản.

soạn bài ôn tập văn học trung đại việt nam

   – Chứng minh qua các tác phẩm:

    + Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng nói đồng cảm với khát vọng hạnh phúc, công lí của con người. Truyện còn là tiếng khóc của nhiều cung bậc. Khóc cho số phận con người bị chà đạp, bị hoen ố dày vò, khóc cho tình yêu bị tan vỡ, khóc cho tình cốt nhục bị lìa xa.

    + Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và dịch giả là Đoàn Thị Điểm là tiếng lòng của người chinh phụ phải sống cô lẻ trong những ngày chồng nàng ra trận, trong cuộc chiến tranh phong kiến. Đó là nỗi buồn đau, sầu tủi, thương, lo cho chồng bao nhiêu, càng thương mình bấy nhiêu. Nỗi buồn vì hạnh phúc tuổi xuân trôi mau mà chồng nàng chưa về, không biết số phận ra sao. Nỗi khao khát hạnh phúc được cất lên từ tâm trạng người chinh phụ bằng những lời ai oán.

    + Thơ Hồ Xuân Hương: Bà không chỉ đòi quyền sống cho mình mà cho cả giới mình. Những giãi bày, lo toàn về tuổi xuân trôi nhanh mà duyên phận bẽ bàng lỡ dở. Thái độ bức phá, vùng vầy đâu chịu “già tom” duyên phận “mõm mòm”. Nó muốn “đâm toạc” “xiên ngang”. Có lúc, Hồ Xuân Hương đề cao cả chuyện “Không có nhưng mà có mới ngoan”. Cái quý nhất của con người mà ông trời đã ban phát cho được bà nói tới nhiều lần. Nói nhiều không phải là khoe. Nhưng khoe được như bà thật là hiếm có.

    + Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu: Bỏ qua triết lí nhân nghĩa truyền thống mà truyện đặt ra “Trai thời trung hiếu làm đầu/Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”, ta thấy nổi lên trong truyện đối nhân xử thế, là khát vọng tình yêu chung thuỷ, là tình bè bạn, nghĩa thầy trò. Người tốt dù phải trải qua bao gian lao vất vả cuối cùng vẫn được hưởng hạnh phúc, dù phải xa cách vẫn có ngày đoàn tụ. Vấn đề lớn nhất là quyền sống con người vẫn được đảm bảo vẹn toàn. Lẽ ghét thương ở đời vẫn rạch ròi dứt khoát.

    + Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ : Bài ca có ý khẳng định con người cá nhân. Cái lối sống “ngất ngưởng” biết đặt mình vượt lên thiên hạ không phải ai cũng làm được

    + Thương vợ của Trần Tế Xương: Ông Tú đề cao, khẳng định bà Tú về một lĩnh vực: Đức tính, đấy là sự chịu thương, chịu khó tần tảo làm buôn làm bán “lặn lội thân cò khi quãng vắng/eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

    + Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến: Tư tưởng nhân văn của bài thơ là đề cao tình người – tình bạn nghe tin bạn mất, Nguyễn Khuyến ngậm ngùi, buông tiếng thở dài, não ruột.

-Ngoài ra, văn học thời kì này còn khẳng định con người cá nhân. Cụ thể:

  + Truyện Kiều- ND: Đề cao vai trò của tình yêu. Đó là biểu hiện cao nhất của sự đề cao con người ca nhân. Tình yêu ko chỉ đem lại cho con người vẻ đẹp c/sống, qua tác phẩm, ( mối tình Kim-Kiều) nhà thơ còn muốn đặt ra vấn đề chống định mệnh.

  + Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm): con người cá nhân gắn liền với nỗi lo sợ tuổi trẻ chóng phai tàn do chiến tranh.

  + Thơ Hồ Xuân Hương: Đó là con người cá nhân bản năng, khao khát sống, khao khát hạnh phúc, tình yêu đích thực, dám nói lên một cách thẳng thắnnhững ước muốn của người phụ nữ bằng một cách nói ngang tàng, với một cá tính mạnh mẽ.

  + Truyện Lục Vân Tiên (NĐC): Con người cá nhân nghĩa hiệp và hành động theo ngững chuẩn mực đạo đức Nho giáo.

  + Bài ca ngất ngưởng ( NCT): Con người cá nhân công danh, hưởng lạc, ngoài khuôn khổ.

  + Thơ Tú Xương: Nụ cười giải thoát cá nhân và tự khẳng định mình.

3. Giá trị phản ánh và phê phán hiện thực của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”: 

* Giá trị phản ánh:

Bức tranh chân thực về cuộc sống nơi phủ chúa được khắc hoạ ở:

 –  Quang cảnh phủ chúa thâm nghiêm, giàu sang, xa hoa

 –  Cung cách sinh hoạt đầy uy quyền, hưởng thụ song thiếu sinh khí

* Giá trị phê phán:

 – Phủ chúa: nơi thâm nghiêm, đầy uy quyền với những tiếng quát tháo, người truyền lệnh, những tiếng dạ ran, những con người vai vế và những con người khúm núm, sợ sệt.

 – Phủ chúa là thế giới riêng. Người ra vào qua nhiều cửa có lính canh. Mọi việc đều có quan truyền lệnh, chỉ đẫn. Thầy thuốc vào phải chờ lệnh, phải khúm núm, lạy tạ.

 – Phủ chúa là nơi cực kỳ giàu sang, xa hoa. Giàu sang từ nơi ở đến tiện nghi sinh hoạt, đồ ăn, thức uống.

 – Cuộc sống nơi phủ chúa âm u, thiếu sinh khí.

Sự thâm nghiêm càng làm tăng ám khí. ám khí bao trùm không gian, ngấm vào thể tạng con người. Trịnh Cán sống trong nhung lụa, trong sự xa hoa nhưng lại thiếu khí trời, thiếu sự sống và sức sống.

4. Giá trị nội dung và NT thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

– Giá trị về nội dung của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    + Trước khi Pháp xâm lược (trước 1858), Nguyễn Đình Chiểu đề cao nhân nghĩa truyền thống, ca ngợi sự ứng xử tốt đẹp giữa người với con người, đó là tình yêu, tình bạn, nghĩa thầy trò, lẽ ghét thương ở đời. Nguyễn Đình Chiểu không đi ra ngoài cái mô típ quen thuộc của truyện nôm bình dân là kết thúc có hậu. Phải chăng đó cũng là khát vọng của bao người.

Sau khi pháp xâm lược (sau 1858) thơ văn thầy Đồ Chiểu đã.

   – Ca ngợi những con người dũng cảm hi sinh, đứng lên đánh giặc, vì nghĩa quên mình. Họ là người nông dân “ngoài cật có một manh áo mỏng” đến hàng ngũ viên lữ dám đứng về phía nhân dân chống giặc.

   – Ghi lại hình ảnh quê hương đất nước trong cảnh chạy giặc. Đó là cảnh “sẻ đàn tan nghé”.

   – Bày tỏ niềm tin vào ngày mai của đất nước.                             

“Chừng nào thánh đế ân soi thấu/Một trận mưa nhuần rửa núi sông.

* Giá trị nghệ thuật:

– Tính chất đạo đức – trữ tình

– Màu sắc Nam Bộ qua ngôn ngữ, tính cách nhân vật.

* Với VTNSCG, lần đầu tiên trong LS DT có một tượng đài bi tráng và bất tử về người nông dân – nghĩa sỹ:

-Vẻ đẹp bi tráng: bi bởi đây là bài văn tế, là tiếng khóc thương không chỉ của Nguyễn Đỡnh Chiểu mà cũn là của nhõn dõn Nam Bộ đối với nông dân nghĩa sĩ; Là tiếng khóc thương cho dân tộc, cho thời đại… Tráng bởi bài văn tế cũng là lời ngợi ca tinh thần căm thù giặc, hành động quả cảm, anh hựng, ý chớ sống đánh giặc, chết cũng đánh giặc với họ. -> Bài văn tế dựng lên tượng đài hoành tráng, bất tử về họ…

   – Trước Nguyễn Đình Chiểu chưa thấy người nông dân xuất hiện trong văn chương với tinh thần tự nguyện đứng lên chiến đấu.

    + Họ chỉ là nạn nhân của chiến tranh xâm lược (Bình Ngô đại cáo). Nếu có được làm lính triều đình thì cũng chỉ xuất hiện trong đội ngũ “Ba quân hùng khí át sao ngưu”

    + Bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn đối tượng nói tới cũng là hàng tưởng (Dụ Chư tì tướng).

    + Truyện Kiều của Nguyễn Du vắng những buổi trưa đầy nắng và cuộc sống của người dân chân lấm tay bùn không hề xuất hiện. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du có đề cập tới đôi, ba cảnh người nghèo như Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả thì cũng chỉ là những cảnh thương tâm đầy nước mắt, sự thổn thức của người nghệ sĩ có trái tim lớn.

    + N.Huệ có vai trò lớn trong việc thống nhất đất nước và tiêu diệt ngoại xâm ở hai đầu tổ quốc. Nhưng đi vào văn chương cũng chỉ hào hùng ở hồi 14 “Quang Trung đại phá quân Thanh”. Trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Tiêu đề của tác phẩm này cũng nhằm đề cao vai trò thống nhất đất nước của vua Lê.

   – Phải đến Nguyễn Đình Chiểu thì hình ảnh người nông dân xuất hiện trong văn chương tương xứng với họ ở ngoài đời.

   – Sau Nguyễn Đình Chiểu: Người nông dân xuất hiện nhiều trong văn chương với tư cách con người chiến sĩ, con người công dân nhưng chưa thấy hình ảnh nào khoẻ khoắn, gây ấn tượng sâu sắc như người nghĩa sĩ nông dân trong bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu. Một số tác phẩm tuy có xây dựng được những điển hình về người nông dân như cụ Mết (Rừng xà Nu, Nguyễn Trung Thành) ông Tán Xợ Đước (Đất, anh Đức)… Đó là những nhân vật được trau chuốt, tô đậm vẫn thiếu cái gì vừa thô nhám vừa chân thật của đời thường.

II- Phương pháp:

1.Một số đặc điểm của về hình thức của văn học trung đại

a. Tư duy nghệ thuật:

– Tính quy phạm và việc phá vỡ tính quy phạm trong bài “Câu cá mùa thu ”của Nguyễn Khuyến

+ Tính quy phạm:Thể loại : thất ngôn bát cú, hình ảnh ước lệ: thu thiên, thu thuỷ, thu  diệp, ngư ông…

+ Phá vỡ tình quy phạm: cảnh thu mang những nét riêng của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, chiếc ao làng với sóng hơi gợn, nước trong veo, lối vào nhà ngõ trúc quanh co.., cách sử dụng vần điệu, vần eo gợi không gian ngoại cảnh và tâm cảnh  như tĩnh lặng thu hẹp dần. Ngôn ngữ bài thơ viết bằng chữ Nôm.

Qua bài thơ,  thấy được làng cảnh quê hương Việt Nam và tấm lòng của nhà thơ với quê hương đất nước…

b.Quan niệm thẩm mĩ: hướng về những cái đẹp trong quá khứ, thiên về cái cao cả, tao nhã, ưa sử dụng những điển cố, điển tích những thi liệu Hán học

– Truyện Lục Vân Tiên: sử dụng những điển tích liên quan đến các ông vua tàn ác, không chăm lo được cuộc sống của nhân dân: Kiệt Trụ mê dâm, U Lệ đa đoan, đời Ngũ Bá…

Bài ca ngất ngưởng: phơi phới ngon đông phong, phường Hàn Phú… nhằm nói lên cái thú tiêu dao của một người nằm ngoài vòng danh lợi, khẳng định lối sống ngất ngưởng của mình, đặt mình với những bậc tiền bối ngày xưa…

Bài ca ngắn đi trên bãi cát:ông tiên ngủ kĩ, danh lợi… là những điển tích, điển cố, những thi liệu Hán được Cao Bá Quát dùng để bộc lộ sự chán ghét của người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đồng thời thể hiện khao khát thay đổi cuộc sống.

c.Bút pháp nghệ thuật: thiên về ước lệ tượng trưng

Bài ca ngắn đi trên bãi cát: bãi cát là hình ảnh tượng trưng cho con đường danh lợi nhọc nhằn, gian khổ. Những người tất tả đi trên bãi cát là những người ham công danh, sẵn sàng vì công danh mà chạy ngược, chạy xuôi

Con đường cùng:tượng trưng cho con đường công danh thi cử, con đường vô nghĩa, và con đường bế tắc của xã hội trong hoàn cảnh  Cao Bá Quát viết bài thơ này.

d.Thể loại

– Thường sử dụng các thể loại có kết cấu định hình và tính ổn định cao: biểu, chiếu, tấu, sớ, cáo hịch, …thơ tứ tuyệt, ngũ ngôn, thất ngôn…

Chiếu cầu hiền,  Cáo bình Ngô, Hịch tướng sĩ, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

– Đặc điểm về hình thức của thơ Đường luật :

Về ngắt nhịp:

-Thơ thất ngôn bát cú Đường luật (TNBCĐL) ngắt nhịp theo kiểu phối hợp chẵn – lẽ : 4/3

Về phối thanh: Xét ở 2 khía cạnh : luật và niêm.

Về luật : Có hai loại :

+ Thơ thất ngôn bát cú Đường luật làm theo luật bằng, vần bằng : là bài thơ được bắt đầu bằng tiếng thứ  2 của câu 1 mang thanh B, và vần B ở cuối các câu : 1, 2, 4, 6, 8.

+ Thơ thất ngôn bát cú Đường luật làm theo luật trắc, vần bằng: là bài thơ được bắt đầu bằng tiếng thứ 2 của câu 1 mang thanh T, và vần B ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.

+ Trong một câu thơ, các tiếng 2,4,6 phải ngược thanh nhau; còn các tiếng 1, 3, 5, 7 có thể linh hoạt về luật B-T.

Về niêm: Là sự liên kết về âm luật của hai câu thơ Đường luật :

+ Hai câu thơ là niêm nhau: khi tiếng thứ hai của 2 câu thơ cùng theo một luật (B hay T).

+ Trong thơ TNBCĐL, các cặp sau đây niêm với nhau : 1-8, 2-3, 4-5, 6-7, 8-1 (không niêm theo đúng luật gọi là thất niêm).

Bố cục :

– Hai câu đề :             Câu 1 : Mở bài gọi là phá đề

                        Câu 2 : vào bài gọi là thừa đề

– Hai câu thực : Câu 3 và 4 đối nhau, dùng để giải thích đề

– Hai câu luận:          Câu 5 và 6 đối nhau, bàn luận về đề.

– Hai câu kết :           Câu 7 và 8 tóm tắt ý cả bài.

– Đặc điểm của văn tế:  Gồm 4 phần: Lung khởi, thích thực, ai vãn và phần kết….

Thể văn: thể phú đường luật có vần, có đối…

-Đặc điểm của thể hát nói :  Lời của bài hát nói có 11 câu, chia làm 3 khổ :

+ Khổ đầu : 4 câu, vần cuối các câu lần lượt là : T-B-B-T

+ Khổ giữa : 4 câu, vần cuối các câu lần lượt là : T-B-B-T

+ Khổ cuối : 3 câu, vần cuối các câu làn lượt là : T-B-B

>>> XEM THÊM : 

Loading...

Check Also

soạn bài chuyện chức phán sự đền tản viên

Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *