Home / SOẠN VĂN / Soạn văn: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

Soạn văn: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

(Soạn văn lớp 12) – Em hãy soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.

(Bài làm của học sinh Hoàng Văn Chiến)

BÀI LÀM

I. NGÔN NGỮ – TÀI SẢN CHUNG CỦA XÃ HỘI

– Muốn giao tiếp hiểu biết nhau, dân tộc, cộng đồng xã hội phải có một phương tiện chung. Phương tiện đó là ngôn ngữ.

– Ngôn ngữ là tài sản chung của cộng đồng được thể hiện qua các yếu tố, các quy tắc chung. Các yếu tố và quy tắc ấy phải là của mọi người trong cộng đồng xã hội mới tạo ra sự thống nhất. Vì vậy ngôn ngữ là tài sản chung.

Loading...

* Tính chung trong ngôn ngữ.

– Tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng được biểu hiện qua các yếu tố.

+ Các âm và các thanh (Phụ âm, nguyên âm, thanh điệu)

Các nguyên âm i, e, ê, u, ư, o, ô, ơ, ă, â

Sáu thanh:

. Không (ngang) (không dấu)

. Huyền (-)

. Hỏi (?)

. Ngã (~)

. Sắc (/)

. Nặng (.)

+ Các tiếng (âm tiết) tạo bởi các âm và thanh

Ví dụ: Nhà ® [/n/h/a/]2,  ấm ® [/â//m/] ­5

. Các từ ® các tiếng (âm tiết) có nghĩa. Ví dụ: Cây, xe, nhà, đi, xanh, vì, nên, và, với, nhưng, sẽ, à….

. Các ngữ cố định ® Thành ngữ, quán ngữ.

Ví dụ: Thuận chồng thuận vợ, bụng ỏng đít vòng, của đáng tội, nói toạc móng heo, cô đi đúc lại, ếch ngồi đáy giếng,…

– Đó là phương thức chuyển nghĩa từ ® Chuyển từ nghĩa gốc sang nghĩa khác (nghĩa phái sinh) hay còn gọi là phương thức ẩn dụ,hoỏn dụ

+ Quy tắc cấu tạo các loại câu. Ví dụ:

Câu đơn:

. Đơn bình thường có hai thành phần ® C+V.

. Đơn đặc biệt (cấu tạo bằng danh từ hoặc động từ, tính từ).

Soạn văn từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ cá nhân

II. LỜI NÓI- SẢN PHẨM RIÊNG CỦA CÁ NHÂN

– Khi nói hoặc viết mỗi cá nhân sử dụng ngôn ngữ chung để tạo ra lời nói đáp ứng yêu cầu giao tiếp.

=> Lời nói cá nhân là sản phẩm của một người nào đó vừa có yếu tố quy tắc chung của ngôn ngữ, vừa mang sắc thái riêng và phần đóng góp của cá nhân.

1. Giọng nói cá nhân (trong, ồ, the thé, trầm…) vì thế mà ta nhận ra người quen khi không nhìn thấy mặt.

 

2. Vốn từ ngữ cá nhân (do thói quen dùng những từ ngữ nhất định) vốn từ ngữ cá nhân phụ thuộc vào nhiều phương diện như lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, vốn sống, trình độ hiểu biết, quan hệ xã hội (ví dụ SGK).

 

3. Sự chuyển đổi khi sử dụng từ ngữ chung, quen thuộc. Cá nhân dựa vào nghĩa của từ (trồng cây ® trồng người), (buộc gió lại ® mong gió không thổi). Đó là sự sáng tạo của cá nhân.

4.  Tạo ra các từ mới. Những từ này lúc đầu do cá nhân dùng. Sau đó được cộng đồng chấp nhận và tự nhiên lại trở thành tài sản chung.

Ví dụ: Nguyễn Tuân dùng: “Cá đẻ” chỉ công an (Hai âm đầu), dần dần được cả xã hội công nhận. Người ta còn tạo ra các từ để chỉ tên gọi của đơn vị thuộc lực lượng vũ trang như: mú, cớm, nút chai, cổ vàng (công an giao thông).

5. Việc vận dụng linh hoạt,sáng tạo quy tắc chung, phương thức chung: khi nói, viết cá nhân có thể tạo ra sản phảm (ngữ, câu, đoạn, bài…) có sự chuyển hoá linh hoạt so với quy tắc và phương thức chung: lựa chọn vị trí cho từ ngữ, tỉnh lược từ ngữ, tách câu.

Ví dụ: Tình thư một bức phong còn kín …

6.   Biểu hiện cụ thể nhất của lời i cá nhân là ở đội ngũ các nhà văn, nhà thơ. Ta gọi chung là phong cách.

Ví dụ:

+ Nhà thơ Tố Hữu thể hiện phong cách trữ tình chính trị

+ Nguyễn Tuân với phong cách tài hoa, uyên bác

+ Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, thâm thuý.

+ Tú Xương thì ồn ào, cay độc.

=> Quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân là quan hệ giữa phương tiện và sản phẩm, giữa cái chung và cái riêng. Ngôn ngữ là cơ sở để tạo ra lời nói, ngôn ngữ cung cấp vật liệu và các qui tắc để tạo ra lời nói. Còn lời nói hiện thực hoá ngôn ngữ, tạo ra sự phát triển và biến đổi của ngôn ngữ.

III. QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ CHUNG VÀ LỜI NÓI CÁ NHÂN

– Mối quan hệ hai chiều

– Ngôn ngữ chung bao gồm toàn bộ ngữ liệu về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp…của một ngôn ngữ  cụ thể.

– Ngôn ngữ chung là cơ sở để mỗi cá nhân sản sinh ra lời nói của mình, đồng thời để lĩnh hội lời nói cá nhân khác.

+ Tạo ra lời nói hoặc viết trong hoàn cảnh cụ thể cá nhân phải huy động các yếu tố ngôn ngữ chung (từ, quy tắc, phương thức ngôn ngữ)

+ Khi nghe hoặc đọc, muốn hiểu được cá nhân cũng cần dựa trên cơ sở những yếu tố chung (từ, quy tắc, phương thức ngôn ngữ).

– Lời nói cá nhân là kết quả của sự vận dụng ngôn ngữ chung. Nó mang đầy đủ các dấu ấn cá nhân về âm sắc, ngữ điệu, cường độ, cao độ (khi nói) và sở thích, vốn sống, trình độ (khi viết).

– Lời nói cá nhân là thực tế sinh động, hiện thực hoá những yếu tố chung (từ, quy tắc, phương thức ngôn ngữ). Đồng thời lời nói cá nhân có những biến đổi và chuyển hoá góp phần hình thành và xác lập những cái mới trong ngôn ngữ, nghĩa là làm cho ngôn ngữ chung phát triển.

– Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân là mối quan hệ hai chiều, vì:

+ Ngôn ngữ chung là cơ sở để sản sinh lời nói cá nhân.

+ Lời nói cá nhân là kết quả vận dụng ngôn ngữ chung, nhưng luôn có mặt ngôn ngữ chung, đồng thời cũng góp phần làm đa dạng và phong phú ngôn ngữ chung.

III. LUYỆN TẬP

Bài 1

– Từ nách trong câu thơ Kiều “Nách tường bông liễu bay sang láng giềng” đã thể hiện sự sáng tạo của Nguyễn Du trong cách dùng từ. Người đọc hình dung ra bên cạnh bức tường giáp với láng giềng là bông liễu. Bông liễu bay sang láng giềng có hai cách hiểu. Một là nhờ có gió mà bông liễu ngả sang nhà hàng xóm. Hai là nhà hàng xóm ở gần nhà người đẹp.

Bài 2

– Từ “xuân” được sử dụng theo cách riêng của mỗi nhà thơ.

+ Hồ Xuân Hương dùng từ “xuân” trong câu “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại” là chỉ thời gian, hết mùa xuân năm nay đến mùa xuân năm sau theo vòng tuần hoàn xuân, hạ, thu, đông, xuân…

+ “Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay” ® Cành xuân chỉ trinh tiết của người phụ nữ.

+ “Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân” ® Chén rượu ngon mừng nhau, uống với nhau vào dịp mùa xuân đến với con người. Cũng có thể hiểu chén rượu ngon uống với nhau vào lúc vui, tràn trề sự sống.

+ “Mùa xuân là tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

“Xuân” ở câu trên (câu 6) là chỉ mùa xuân của một năm. “Xuân” ở câu sau (câu tám) là chỉ niêm vui hạnh phúc của đất nước.

Bài 3

Hai câu thơ của Hồ Xuân Hương

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

Tác giả đã sử dụng cách đảo ngữ (V-C) nếu khôi phục lại

Rêu từng đám xiên ngang mặt đất

Đá mấy hòn đâm toạc chân mây.

Cách xếp đặt của thơ Hồ Xuân Hương nhằm nhấn mạnh hành động. Đây là hành động trong tâm trạng. Nó không phải là ngoại cảnh mà là tâm cảnh. Một tâm trạng bị dồn nén đến tức tối muốn đập phá, muốn được giải thoát khỏi sự cô đơn, vẻ đẹp thẩm mĩ chính là sự sử dụng từ ngữ tiếng Việt độc đáo và táo bạo trong thơ nữ sĩ họ Hồ.

Bài 4

– Có ba cặp từ láy ở 3 ví dụ. Nghĩa của nó đặt trong từng văn cảnh.

+ Mọn mằn: Những vật nhỏ

+ Giỏi giắn: Vừa khoẻ mạnh vừa giắn giỏi, cứng cáp.

+ Điệu đàng; Làm dáng, làm điệu

>>> XEM THÊM: 

Loading...

Check Also

soạn bài những yêu cầu về sử dụng tiếng việt

Soạn bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Những yêu cầu về sử dụng …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *